Vốn hóa thị trường

Giá trị vốn hóa thị trường vốn (EMC) là gì?

Giá trị vốn hóa thị trường (Equity Market Capitalization, viết tắt là EMC), thường được biết đến như là Giá trị vốn hóa hoặc vốn hóa thị trường, là tổng giá trị của các cổ phiếu phổ thông đang lưu hành của một công ty được giao dịch đại chúng. Nó được tính bằng cách nhân giá của một cổ phiếu với tổng số cổ phiếu đang lưu hành của nó. Ví dụ, một công ty có 20 triệu cổ phiếu bán với giá 50 đô la một cổ phiếu sẽ có giá trị vốn hóa thị trường là 1 tỷ đô la.

Hiểu hơn về EMC

Nói cách khác, EMC đề cập đến tổng giá trị thị trường bằng đô la của cổ phiếu đang lưu hành của một công ty tính từ giá cổ phiếu của nó. Do đó, nó được tính bằng cách nhân số lượng cổ phiếu của một công ty đang lưu hành với giá thị trường hiện tại của một cổ phiếu. Các nhà đầu tư sử dụng con số này để xác định quy mô của công ty. Quy mô của một công ty là yếu tố cơ bản quyết định các đặc điểm khác nhau, chẳng hạn như tính rủi ro hoặc tính biến động mà các nhà đầu tư quan tâm.

Phân loại theo giá trị vốn hóa

Vì EMC cho phép các nhà đầu tư hiểu được quy mô của một công ty trong mối quan hệ tương quan với công ty khác bằng cách đo lường giá trị của công ty trên thị trường mở, cũng như nhận thức của thị trường về triển vọng tương lai của nó, bởi vì nó phản ánh những gì nhà đầu tư sẵn sàng trả cho cổ phiếu của nó.

Phân loạiPhạm vi Giá trị trường
1Mega-Cap> $200 tỷ
2Cap lớn10 tỷ USD ~ 200 tỷ USD
3Giới hạn trung bình2 tỷ USD ~ 10 tỷ USD
4Cap nhỏ300 triệu USD ~ 2 tỷ USD
5Micro-Cap50 triệu USD ~ 300 triệu USD
6Nano-Cap<50 triệu USD
Bảng Phân cấp vốn hóa thị trường
  1. Các công ty Mega-Cap và Large-Cap thường là các công ty có giá trị thị trường từ 10 tỷ đô la trở lên. Các công ty này thường có danh tiếng về sản xuất hàng hóa và dịch vụ chất lượng, có lịch sử trả cổ tức nhất quán và tăng trưởng ổn định. Họ thường là những người chơi thống trị trong các ngành công nghiệp lâu đời và tên thương hiệu của họ có thể quen thuộc với đối tượng người tiêu dùng quốc gia. Do đó, các khoản đầu tư vào các cổ phiếu vốn hóa lớn và vốn hóa lớn có thể được coi là thận trọng hơn các khoản đầu tư vào các cổ phiếu vốn hóa nhỏ hoặc trung bình, có khả năng gây ra ít rủi ro hơn để đổi lấy tiềm năng tăng trưởng kém tích cực hơn.
  2. Các công ty Mid-Cap (có vốn hóa trung bình) thường là những doanh nghiệp có giá trị thị trường từ 2 tỷ đến 10 tỷ USD. Thông thường, đây là những công ty được thành lập trong các ngành đang trải qua hoặc dự kiến ​​sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh. Các công ty quy mô vừa này có thể đang trong quá trình tăng thị phần và cải thiện khả năng cạnh tranh tổng thể. Giai đoạn tăng trưởng này có khả năng xác định liệu cuối cùng một công ty có phát huy hết tiềm năng của mình hay không. Các cổ phiếu vốn hóa trung bình thường nằm giữa các cổ phiếu vốn hóa lớn và vốn hóa nhỏ theo phổ rủi ro / lợi nhuận. Nhóm vốn hóa trung bình có thể mang lại nhiều tiềm năng tăng trưởng hơn các nhóm vốn hóa lớn và có thể ít rủi ro hơn so với các nhóm vốn hóa nhỏ.
  3. Các công ty Small-Cap (vốn hóa nhỏ) thường là những công ty có giá trị thị trường từ 300 triệu đến 2 tỷ đô la. Nói chung, đây là những công ty trẻ phục vụ các thị trường ngách hoặc các ngành công nghiệp mới nổi. Nhóm vốn hóa nhỏ được coi là loại mạnh và rủi ro nhất trong 3 loại. Nguồn lực tương đối hạn chế của các công ty nhỏ có thể khiến họ dễ bị ảnh hưởng bởi kinh doanh hoặc suy thoái kinh tế. Họ cũng có thể dễ bị tổn thương trước sự cạnh tranh gay gắt và tính không chắc chắn của các thị trường chưa được thử thách và đang phát triển. Mặt khác, các cổ phiếu vốn hóa nhỏ có thể mang lại tiềm năng tăng trưởng đáng kể cho các nhà đầu tư dài hạn, những người có thể chịu được những biến động giá cổ phiếu không ổn định trong ngắn hạn.
  4. Các công ty Micro-Cap (có vốn hóa siêu nhỏ) thường có giá trị thị trường từ 50 triệu đến 300 triệu USD và cung cấp các rủi ro và phần thưởng tương tự như các công ty có vốn hóa nhỏ. Thông thường, lĩnh vực tài chính sẽ không phân biệt giữa vốn hóa siêu nhỏ và vốn hóa nhỏ và thay vào đó sẽ bao gồm tất cả các công ty ở hai cấp độ này trong vốn hóa nhỏ.
  5. Tương tự, Nano-Cap, các công ty đại chúng với giá trị thị trường dưới 50 triệu đô la đôi khi được gọi thay thế cho nhau là các công ty nano-cap hoặc micro-cap. Các công ty có vốn hóa nano là một số rủi ro nhất khi đầu tư vào, nhưng cũng đang ngày càng phổ biến.

Điều gì có thể ảnh hưởng đến EMC của một công ty

Có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến vốn hóa thị trường của công ty. Những thay đổi đáng kể về giá trị của cổ phiếu - tăng hoặc giảm - có thể ảnh hưởng đến nó, cũng như những thay đổi về số lượng cổ phiếu đã phát hành. Bất kỳ việc thực hiện chứng quyền nào trên cổ phiếu của một công ty sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành, do đó làm giảm giá trị hiện có của nó. Vì việc thực thi chứng quyền thường được thực hiện dưới giá thị trường của cổ phiếu, nên nó có thể ảnh hưởng đến vốn hóa thị trường của công ty.

Nhưng vốn hóa thị trường thường không bị thay đổi do kết quả của việc chia tách cổ phiếu hoặc cổ tức. Sau khi chia tách, giá cổ phiếu sẽ giảm do số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên. Ví dụ, trong đợt chia 2 lấy 1, giá cổ phiếu sẽ giảm một nửa. Mặc dù số lượng cổ phiếu đang lưu hành và giá cổ phiếu thay đổi, vốn hóa thị trường của một công ty vẫn không đổi. Điều tương tự cũng áp dụng cho cổ tức. Nếu một công ty phát hành cổ tức - do đó làm tăng số lượng cổ phiếu nắm giữ - thì giá của nó thường giảm xuống.

Để lại một câu trả lời